Top những câu lạc bộ bóng đá Hà Lan nổi tiếng
Tin bóng đá

Top những câu lạc bộ bóng đá Hà Lan nổi tiếng

Hà Lan không chỉ nổi tiếng bởi đội tuyển quốc gia với biệt danh :” Cơn lốc màu da cam’ mà họ còn nổi tiếng bởi giải vô địch quốc gia với những câu lạc bộ có lối chơi phóng khoáng, quyến rũ. Sau đây là những câu lạc bộ nổi bật nhất của đất nước “cối xay gió”.

1. Ajax Amsterdam

Là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của Hà Lan có trụ sở tại Amsterdam . Trong lịch sử, Ajax (được đặt tên theo anh hùng Hy Lạp huyền thoại ) đã là câu lạc bộ thành công nhất ở Hà Lan , với 33 danh hiệu Eredivisie và 18 chén KNVB . Nó đã liên tục chơi trong Eredivisie , bộ phận bóng đá hàng đầu của Hà Lan, kể từ khi thành lập vào năm 1956 và, cùng với Feyenoord và PSV, nó là một trong những câu lạc bộ bóng đá vĩ đại nhất của nền bóng đá “Cơn lốc màu da cam”.

Đội hình Dream team của Ajax năm 1958

Ajax đã từng là một trong những câu lạc bộ thành công nhất trên thế giới. Theo IFFHS , Ajax là câu lạc bộ châu Âu thành công thứ bảy của thế kỷ 20 và Nhóm Câu lạc bộ của Thế giới của năm vào năm 1992. Theo tạp chí Kicker của Đức , Ajax là câu lạc bộ châu Âu thành công thứ hai trong số 20 thế kỷ. Câu lạc bộ là một trong năm đội đã giành được quyền giữ Cup châu Âu và đeo huy hiệu của những nhà vô địch; họ đã liên tục giành chiến thắng từ năm 1971-1973.

Năm 1972, họ hoàn thành cú ăn ba lục địa bằng chiến thắng Eredivisie , KNVB Cup và European Cup. Nó cũng giành Siêu cúp UEFA được tổ chức đầu tiên vào năm 1972 với Glasgow Rangers (năm 1973). Những danh hiệu quốc tế cuối cùng của Ajax là Cúp Liên lục địa năm 1995 , Siêu cúp UEFA năm 1995 và Giải vô địch năm 1995 , nơi họ đánh bại Milan trong trận chung kết ; họ mất 1996 Champions League trận chung kết trên chấm phạt đền để Juventus . Năm 1995, Ajax được trao danh hiệu Đội tuyển Thế giới của năm do tạp chí World Soccer bình chọn.

Ajax cũng là một trong bốn đội giành được cú ăn ba lục địa và Intercontinental Cup, Club World Cup trong cùng một mùa giải / năm dương lịch;  Điều này đạt được trong mùa giải 1971–72.  Ajax, Juventus, Bayern Munich , Chelsea và Manchester United là năm câu lạc bộ đã giành được cả ba cúp ở các giải đấu lớn của UEFA. Họ cũng đã giành được Intercontinental Cup hai lần, Cúp UEFA 1991–92 , cũng như Karl Rappan Cup , tiền thân của UEFA Intertoto Cup năm 1962. Ajax chơi tại  sân vận động Johan Cruyff Arena , được khai trương là Amsterdam ArenA vào năm 1996 và được đổi tên vào năm 2018. Trước đây họ chơi tại sân De Meer Stadion và Amsterdam Olympic Stadium (cho các trận đấu quốc tế).

2. Feynoord Rotterdam

Là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của Hà Lan có trụ sở tại Rotterdam , chơi ở Eredivisie . Được thành lập như Wilhelmina vào năm 1908, câu lạc bộ đổi tên thành SC Feijenoord vào năm 1912, SC Feyenoord vào năm 1974, [1] và Feyenoord Rotterdam năm 1978, khi SC Feyenoord trở thành một đội ngũ nghiệp dư riêng biệt. Từ năm 1937, sân nhà của Feyenoord là Stadion Feijenoord, có biệt danh De Kuip.

Feyenoord là một trong những câu lạc bộ thành công nhất ở Hà Lan, giành được 15 danh hiệu Eredivisie, 13 chén KNVB và 4 lá chắn Johan Cruyff . Trên toàn thế giới, câu lạc bộ  đã giành được một cúp châu Âu , hai cúp UEFA và một cúp liên lục địa . Câu lạc bộ đã chơi liên tục ở hạng cao nhất của hệ thống bóng đá Hà Lan kể từ khi được thăng chức cho Eerste Klasse ( cuộc thi tiền vệ của Eredivisie) vào năm 1921 , nhiều lần hơn bất kỳ câu lạc bộ nào khác trong nước, kể cả bao gồm Ajax và PSV Eindhoven .

 

 

Feyenoord được biết đến như một câu lạc bộ của các cổ động viên trung thành của câu lạc bộ với sự hỗ trợ rất lớn của quốc gia. Thời kỳ thành công nhất của câu lạc bộ trong lịch sử là những năm 1960 và 70, khi Coen Moulijn và Ove Kindvall dẫn câu lạc bộ tới sáu chức vô địch, hai danh hiệu châu Âu, và một Intercontinental Cup, từ đó trở thành câu lạc bộ Hà Lan đầu tiên trong lịch sử giành cả hai cúp C1  châu Âu Cup và Intercontinental Cup.

Feyenoord có một sự cạnh tranh lâu dài với Ajax, một cuộc đụng độ giữa hai đội từ hai thành phố lớn nhất ở Hà Lan, được gọi là De Klassieker (“The Classic”). Ca khúc của câu lạc bộ là “Hand in Hand”.

Đến năm 2019, Feyenoord sẽ trở thành một câu lạc bộ đa thể thao; HC Feijenoord, Sportclub Feyenoord (đội bóng đá nghiệp dư), và Feyenoord Basketbal là một phần của câu lạc bộ.

3. PSV Eindhoven

Là một đội bóng lớn của bóng đá Hà Lan. Và có lịch sử hình thành lâu đời nhất của nền bóng đá xứ sở “Hoa Tuy Luýp”.

Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1913 với tư cách là một đội ngũ nhân viên của Philips . Lịch sử PSV chứa hai kỷ nguyên vàng xoay quanh chiến thắng UEFA Cup vào năm 1978 và 1987-1988 Cup châu Âu chiến thắng như một phần của treble theo mùa trong năm 1988 . Đội đã giành được Eredivisie 24 lần, KNVB Cup chín lần và lá chắn Johan Cruyff mười lần. Hiện tại, PSV xếp thứ 28 về xếp hạng hệ số câu lạc bộ UEFA .  Trong suốt những năm qua, PSV đã thành lập chính nó như là một bước đệm cho các cầu thủ đẳng cấp thế giới trong tương lai như Ruud Gullit , Ronald Koeman , Romário ,Ronaldo , Phillip Cocu , Arthur Numan , Eidur Gudjohnsen , Jaap Stam , Ruud van Nistelrooy , Park Ji Sung và Arjen Robben .

PSV chơi tại sân vận động Phillip với sức chứa hơn 50000 chỗ ngồi.

4. FC Twente

Là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của Hà Lan đến từ thành phố Enschede , chơi trong đội Keuken Kampioen . Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1965 bởi sự sát nhập của 1926 nhà vô địch Hà Lan, Sportclub Enschede và Enschedese Boys . Họ là những người nắm giữ của năm 2011 KNVB Cup và Johan Cruijff Schaal danh hiệu, và là nhà vô địch Eredivisie trong mùa giải 2009-10 ; đội bóng cũng đã kết thúc khi Eredivisie á quân hai lần, là Á quân trong Cúp UEFA 1974–75 , và đã giành được KNVB Cup ba lần. Sân nhà của Twente từ năm 1998 là De Grolsch Veste .

Những thành công đầu tiên của câu lạc bộ bắt đầu ngay sau vụ sáp nhập năm 1965, dưới sự huấn luyện viên sáng tạo Kees Rijvers . Twente hoàn thành mùa giải ở vị trí  thứ ba vào năm 1969, thứ tư vào năm 1970, thứ năm vào năm 1971, thứ ba vào năm 1972 và một lần nữa vào năm 1973. Các nhân vật chính của đội là các anh hùng địa phương như Epi Drost , Eddy Achterberg , Kick van der Vall và Theo Pahlplatz . Mùa giải Eredivisie tốt nhất của họ là 1973–74 , trong đó Twente chiến đấu cho chức vô địch Hà Lan với Feyenoord . Một cuộc đối đầu trực tiếp trong trận đấu cuối cùng của mùa giải, tại Rotterdam , nơi Feyenoord chiếm ưu thế 3–2, phong ấn số phận của Twente trong thời gian thi đấu chính thức. Dù thua cuộc, nhưng vào thời điểm đó, Twente thực sự là một thế lực của bóng đá Hà Lan và Châu Âu.

5. AZ Alkmaar

Là mộtcâu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của Hà Lantừ Alkmaar và Zaanstreek . Câu lạc bộ chơi trong Eredivisie , giải đấu bóng đá chuyên nghiệp cao nhất tại Hà Lan, và tổ chức các trận đấu sân nhà tại AFAS Stadion .

Georg Keßler là quản lý của AZ trong hầu hết các năm (1978–82), trong khi các cầu thủ ngôi sao bao gồm: Kees Kist , cầu thủ ghi bàn cao nhất của câu lạc bộ với 212 bàn và là cầu thủ người Hà Lan đầu tiên giành được chiếc giày vàng châu Âu năm 1979 khi anh ghi 34 bàn trong một mùa; Jan Peters , người đã chơi 120 trận cho AZ trong thời gian này ghi được 30 bàn thắng từ hàng tiền vệ; và Hugo Hovenkamp , người đã chơi 239 trận để bảo vệ AZ từ 1975–83, cũng như đá 31 trận cho đội tuyển Hà Lan từ 1977–1983 và chơi mỗi trận trong UEFA Euro 1980 trong khi một cầu thủ AZ. Các ngôi sao khác bao gồm John Metgod, người đã trải qua sáu năm tại AZ, chơi 195 trận với tư cách là một hậu vệ, ghi 26 bàn thắng trong đó có một bàn thắng vào lưới Ipswich Town trong trận chung kết Cúp UEFA. Giống như Hovenkamp, ​​Metgod cũng được đưa vào đội tuyển Hà Lan cho Euro 1980. Trong khi đó, tiền đạo người Đan Mạch Kristen Nygaard đã dành 10 năm tại AZ, ghi 104 bàn trong 363 trận đấu từ năm 1972 đến năm 1982.

AZ đã giành được Eredivisie hai lần, vào những năm 1980–81 và 2008–09 . Trong cùng mùa giải với chức vô địch đầu tiên, họ cũng đã đến được trận chung kết UEFA Cup , họ đã thua Ipswich Town . Ngoài ra, đội bóng đã giành được KNVB Cup trong bốn lần./